HANOTOURS - Trao dịch vụ, nhận nụ cười

: 1900 0059

: 024 7309 0009

: 0902 005 009

Toàn cảnh thông tin du lịch Hà Giang

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Về phía Bắc, Hà Giang giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Thông tin du lịch Hà Giang

Vị trí địa lý:

Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam, tỉnh này có nhiều ngọn núi đá cao và sông suối.

Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. Khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp.Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và Thành phố Hà Giang.

Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419 m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là cao nhất. Về thực vật, Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, và có tới 1000 loại cây dược liệu. Động vật có hổ, công, trĩ, tê tê, và nhiều loại loại chim thú khác. Với thiên nhiên ưu đãi cùng với văn hóa đặc sắc của đồng bảo dân tộc ít người nơi đây tạo cho du lịch Hà Giang một sự hấp dẫn đặc biệt cho hàng triệu lượt khách du lịch ghé thăm.

Hành chính: Tỉnh Hà Giang bao gồm 1 thành phố và 10 huyện:

• Thành phố Hà Giang 5 phường và 3 xã
• Huyện Bắc Mê 1 thị trấn và 12 xã
• Huyện Bắc Quang 2 thị trấn và 21 xã
• Huyện Đồng Văn 2 thị trấn và 17 xã
• Huyện Hoàng Su Phì 1 thị trấn và 25 xã
• Huyện Mèo Vạc 1 thị trấn và 17 xã
• Huyện Quản Bạ 1 thị trấn và 12 xã
• Huyện Quang Bình 15 xã
• Huyện Vị Xuyên 2 thị trấn và 22 xã
• Huyện Xín Mần 1 thị trấn và 18 xã
• Huyện Yên Minh 1 thị trấn và 17 xã

Tỉnh Hà Giang có 196 đơn vị cấp xã bao gồm 5 phường, 12 thị trấn và 179 xã

Thống kê đến ngày 30/06/2004 Tỉnh Hà Giang số xã/phường/thị trấn: 102; xã: 84, phường: 9, thị trấn: 9

1. Thành phố Hà Giang 5 phường, 3 xã: Phường Ngọc Hà, Phường Trần Phú, Phường Minh Khai, Phường Quang Trung, Phường Nguyễn Trãi, , Xã Ngọc Đường, Xã Phương Độ, Xã Phương Thiện.

2. Huyện Đồng Văn 2 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Đồng Văn, Thị trấn Phó Bảng, Xã Sính Lủng, Xã Sủng Là, Xã Sủng Trái, Xã Lũng Thầu, Xã Má Lé, Xã Phố Cáo, Xã Phố Là, Xã Sảng Tủng, Xã Tả Lủng, Xã Tả Phìn, Xã Thài Phìn Tủng, Xã Vần Chải, Xã Xà Phìn, Xã Hố Quáng Phìn, Xã Lũng Cú, Xã Lũng Phìn, Xã Lũng Táo.

3. Huyện Mèo Vạc 1 thị trấn, 16 xã: Thị trấn Mèo Vạc, Xã Cán Chu Phìn, Xã Giàng Chu Phìn, Xã Khâu Vai, Xã Tả Lủng, Xã Tát Ngà, Xã Thượng Phùng, Xã Xín Cái, Xã Lũng Chinh, Xã Lũng Pù, Xã Sơn Vĩ, Xã Sủng Máng, Xã Sủng Trà, Xã Nậm Ban, Xã Niêm Sơn, Xã Pả Vi, Xã Pải Lủng.

4. Huyện Yên Minh 1 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Yên Minh, Xã Bạch Đích, Xã Đông Minh, Xã Du Già, Xã Du Tiến, Xã Đường Thượng, Xã Hữu Vinh, Xã Lao Và Chải, Xã Lũng Hồ, Xã Mậu Duệ, Xã Mậu Long, Xã Na Khê, Xã Ngam La, Xã Ngọc Long, Xã Phú Lũng, Xã Sủng Thài, Xã Sủng Tráng, Xã Thắng Mố.

5. Huyện Quản Bạ 1 thị trấn, 12 xã: Thị trấn Tam Sơn, Xã Bát Đại Sơn, Xã Cán Tỷ, Xã Cao Mã Pờ, Xã Đông Hà, Xã Lùng Tám, Xã Nghĩa Thuận, Xã Quản Bạ, Xã Quyết Tiến, Xã Tả Ván, Xã Thái An, Xã Thanh Vân, Xã Tùng Vài.

6. Huyện Vị Xuyên 2 thị trấn, 21 xã: Thị trấn NT Việt Lâm, Thị trấn Vị Xuyên, Xã Bạch Ngọc, Xã Cao Bồ, Xã Đạo Đức, Xã Lao Chải, Xã Linh Hồ, Xã Minh Tân, Xã Ngọc Linh, Xã Ngọc Minh, Xã Phong Quang, Xã Phương Độ, Xã Phương Thiện, Xã Phương Tiến, Xã Quảng Ngần, Xã Thanh Đức, Xã Thanh Thủy, Xã Thuận Hoà, Xã Thượng Sơn, Xã Trung Thành, Xã Tùng Bá, Xã Việt Lâm, Xã Xín Chải.

7. Huyện Bắc Mê 1 thị trấn 12 xã: Thị trấn Yên Phú, Xã Đường Âm, Xã Đường Hồng, Xã Giáp Trung, Xã Lạc Nông, Xã Minh Ngọc, Xã Minh Sơn, Xã Phiêng Luông, Xã Phú Nam, Xã Thượng Tân, Xã Yên Cường, Xã Yên Định, Xã Yên Phong.

8. Huyện Hoàng Su Phì 1 thị trấn, 24 xã: Thị trấn Vinh Quang, Xã Bản Luốc, Xã Bản Máy, Xã Bản Nhùng, Xã Bản Péo, Xã Bản Phùng, Xã Chiến Phố, Xã Đản Ván, Xã Hồ Thầu, Xã Nậm Dịch, Xã Nậm Khòa, Xã Nam Sơn, Xã Nậm Tỵ, Xã Nàng Đôn, Xã Ngàm Đăng Vài, Xã Pố Lồ, Xã Pờ Ly Ngài, Xã Sán Xả Hồ, Xã Tả Sử Choóng, Xã Tân Tiến, Xã Thàng Tín, Xã Thèn Chu Phìn, Xã Thông Nguyên, Xã Tụ Nhân, Xã Túng Sán.

9. Huyện Xín Mần 1 thị trấn, 18 xã: Thị trấn Cốc Pài, Xã Bản Díu, Xã Bản Ngò, Xã Chế Là, Xã Chí Cà, Xã Cốc Rế, Xã Khuôn Lùng, Xã Nà Chì, Xã Nấm Dẩn, Xã Nàn Ma, Xã Nàn Xỉn, Xã Ngán Chiên, Xã Pà Vầy Sủ, Xã Quảng Nguyên, Xã Tả Nhìu, Xã Thèn Phàng, Xã Thu Tà, Xã Trung Thịnh, Xã Xín Mần.

10. Huyện Bắc Quang 2 thị trấn, 21 xã: Thị trấn Việt Quang, Thị trấn Vĩnh Tuy, Xã Bằng Hành, Xã Đồng Tâm, Xã Đông Thành, Xã Đồng Tiến, Xã Đồng Yên, Xã Đức Xuân, Xã Hùng An, Xã Hữu Sản, Xã Kim Ngọc, Xã Liên Hiệp, Xã Quang Minh, Xã Tân Lập, Xã Tân Quang, Xã Tân Thành, Xã Thượng Bình, Xã Tiên Kiều, Xã Việt Hồng, Xã Việt Vinh, Xã Vĩnh Hảo, Xã Vĩnh Phúc, Xã Vô Điếm.

11. Huyện Quang Bình 15 xã: Xã Bản Rịa, Xã Bằng Lang, Xã Hương Sơn, Xã Nà Khương, Xã Tân Bắc, Xã Tân Nam, Xã Tân Trịnh, Xã Tiên Nguyên, Xã Tiên Yên, Xã Vĩ Thượng, Xã Xuân Giang, Xã Xuân Minh, Xã Yên Bình, Xã Yên Hà, Xã Yên Thành.

Lịch sử

Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi thế lực của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên.

Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.
Trước năm 1975, Hà Giang có các huyện Đồng Văn, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh, Hoàng Su Phì, Bắc Quang, Thanh Thủy và Quản Bạ.

Di tích lịch sử và thắng cảnh du lịch Hà Giang

1. Thành phố Hà Giang:

Núi Cấm Sơn:

Cấm Sơn là một dãy núi chạy dài theo dốc Mã Tim với địa hình hiểm trở, hang sâu vách đá dựng đứng, như con sư tử với dáng oai vệ đang sừng sững ngẩng cao đầu. Từ trên đỉnh núi Cấm Sơn chạy về phía sông Lô là núi đất, sườn núi vách dốc trải dài suốt từ đường 19/5 đến quảng trường 26/3.  Dưới chân núi là những phố phường đông đúc dân cư, làm ăn sầm uất. Tuy nhiên, người dân Hà Giang ít ai thấy hết được vẻ đẹp tự nhiên mà huyền bí của Cấm Sơn vì chỉ có một con đường lên đỉnh núi. Trên đỉnh núi có một hang sâu thẳm, thẳng đứng như một cái “giếng trời”. Chính với địa thế hiểm trở và độc đáo này mà thực dân Pháp khi xâm lược đã chọn nơi đây làm chốt canh giữ chính. Theo truyền thuyết, khoảng những năm 1870 – 1875, địa hạt Hà Giang có đội quân cờ vàng của Hoàng Sùng Anh kéo đến để cướp bóc, bị đội quân của đồng bào các dân tộc là “quân cờ trắng” đánh trả quyết liệt, bao vây, truy kích. Năm 1875, quân cờ vàng của Hoàng Sùng Anh bị co cụm, chạy lên núi Cấm để cố thủ. Lương thực cạn kiệt dần, xung quanh núi Cấm lại bị bao vây chặt chẽ, biết không thể thoát, cả tướng lẫn quân cờ vàng nhảy xuống hang sâu trên núi tự tử. Với tấm lòng bao dung và nhân ái, nhân dân địa phương lập ngôi miếu nhỏ, cầu nguyện cho những linh hồn bất hạnh được siêu thoát. Núi trở thành nơi linh thiêng huyền bí hơn. Sau này, miếu ấy cũng không còn nữa, dân địa phương đã đưa về thờ tại “Cấm Sơn linh từ” (đền núi Cấm, nay là đền Mẫu). Trên đỉnh núi hiện vẫn còn vết tích của những hang đá sâu, hệ thống hầm hào, lô cốt của Pháp. Trong những năm gần đây, Hà Giang có chủ trương khai thác tiềm năng núi Cấm phục vụ cho việc phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội. Núi Cấm đã được xây dựng tháp truyền hình lớn và một số thiết chế văn hóa du lịch. Từ dưới chân núi (cầu Yên Biên 2), ta có thể đi xe máy, ô tô đến lưng chừng núi. Tiếp tục đi bộ theo con đường bậc thang đổ bê tông ngoằn nghèo cạnh sườn núi, luồn lách qua những kẽ đá tai mèo dựng đứng, bên là vực sâu thăm thẳm với những dây song mây rậm rạp, du khách sẽ trở về ngược dòng thời gian, tìm thấy những dấu ấn lịch sử của Cấm Sơn.

Chùa Sùng Khánh:

Chùa Sùng Khánh còn gọi là chùa làng Nùng, tọa lạc trên đỉnh một quả đồi ở bên bờ phải dòng sông Lô thuộc thôn Nùng, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, cách trung tâm thị xã Hà Giang 9km.

Chùa cũ vốn là một công trình thờ Phật từ đời Trần quí hiếm trên miền Thượng du còn sót lại, khung đỡ được làm bằng gỗ, lợp lá, dựng vào năm 1356, nhưng đã bị đổ nát từ lâu. Ngôi chùa hiện nay được nhân dân nơi đây người góp công người góp của xây dựng vào năm 1989, tọa lạc trên nền ngôi chùa cũ nhưng nhỏ và thấp hơn. Chùa có kiến trúc đơn giản, xây dựng theo hình chữ “Nhất”, chỉ gồm một gian chánh điện diện tích 26m2, cao 4.3 với một cửa chính và hai cửa phụ ở hai bên, vách gạch, lợp ngói có tường bao quanh. Ngay cửa chính đi vào là nơi thờ Phật được xây dựng bệ để đặt một số đồ thờ. Phía trên bệ thờ treo một bức tranh có hình Phật bà Quan Âm thay cho tượng Phật. Tấm bia đá ở bên trái bệ thờ là di sản quí giá nhất của ngôi chùa, ghi công lao của những người đã có công xây dựng ngôi chùa tiêu biểu là; ông Nguyễn Ân là chú của một tù trưởng miền núi có công rất lớn trong việc tu tạo ngôi chùa, và dựng bia công đức vào tháng Giêng năm Bính Thân niên hiệu Thiệu Phong (1356). Bia cao 0.90m, rộng 0.50m, trên bia có chạm khắc hình lưỡng long chầu Phật Bà Quan Âm, văn bia do Phụng Độc Học sinh, Thứ sử trực thư Tạ Thúc Ngao soạn vào tháng 3 năm 1367. Bên phải của bệ thờ treo quả chuông đúc vào năm trùng tu chùa, thời hậu Lê (1705). Chuông cao 0.90m, đường kính miệng chuông chạm khắc nhiều hoa văn tinh xảo. Hằng năm, đến ngày 3 và 4 tết bà con dân tộc trong vùng lân cận kéo về tụ hội vui xuân, các trò chơi được tổ chức vừa mang bản sắc dân tộc cổ truyền của dân địa phương như: ném còn, kéo co, vừa đan xen một số trò chơi thể thao hiện đại như: bóng đá, bóng chuyền.

Hang Chui:

Cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) về phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m (300 ft). Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá rủ xuống đủ mọi hình thù. Đặc biệt hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác.

Động Tiên và Suối Tiên:

Động nằm cách thành phố Hà Giang khoảng 2 km (1.25 dặm) trong động có Suối Tiên rất đẹp. Sự tích kể rằng ngày xưa các tiên nữ trên trời vẫn thường xuống động này để tắm vào dịp Tết chính vì vậy người dân nơi đây đã đặt tên cho động là Động Tiên. Hằng năm mỗi khi giao thừa đến là nhân dân quanh vùng đến Động Tiên lấy nước và làm lễ cầu may mắn bình ăn cho bản thân và các thành viên trong gia đình.

Di tích lịch sử Kỳ Đài:

Di tích nằm ở Trung tâm thành phố Hà Giang, nơi đây ngày 27/3/1961 đồng bào các dân tộc Hà Giang đã vinh dự được đón Bác Hồ thăm và nói chuyện thân mật. Di tích Kỳ Đài không những là công trình văn hóa, mà còn là nơi ghi dấu, gìn giữ những kỷ niệm về Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, động viên khích lệ nhân dân Hà Giang làm theo lời Bác Hồ căn dặn, hăng hái tham gia sản xuất, đoàn kết một lòng theo Đảng xây dựng và bảo vệ quê hương Hà Giang ngày càng phát triển.

Chuông chùa Bình Lâm:

Chùa Bình Lâm thuộc địa phận thôn Tông Mường xã Phú Linh, Thành phố Hà Giang. Chùa còn có tên gọi chữ Hán là "Bình Lâm Tự". Do thời gian ngôi chùa không còn, nhân dân làm một ngôi nhà bảo vệ và lưu giữ một quả chuông thời Trần được đúc vào tháng 3 năm Ất Mùi (1295) chuông có chiều cao 103 cm, đường kính miệng 65 cm, quai được cấu tạo bởi hai hình rồng, trên chuông có khắc bào Minh bằng chữ Hán gồm 309 chữ năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 4 (1296). Đây là quả chuông được coi là duy nhất và sớm nhất tìm thấy ở nước ta hiện nay, trên quả chuông ta bắt gặp tiêu bản rồng nổi trên chất liệu đồng (thế kỷ 13). Cùng với quả chuông, tại chùa Bình Lâm còn phát hiện được một số di vật như Tháp đất nung, mái ngói có hoạ tiết hoa chanh....là những nét quen thuộc và tiêu biểu của văn hoá thời Trần. (Hiện di tích đang được hoàn tất hồ sơ đề nghị Nhà nước công nhận).

2. Huyện Quản Bạ

Núi đôi Quản Bạ hay còn gọi là núi đôi Cô Tiên là điểm đến hút khách du lịch nhất khi tới Quản Bạ

Cách trung tâm thị xã Hà Giang khoảng 46 km về phía bắc, Quản Bạ được ví như một “Đà Lạt” của phía Bắc. Nơi đây, tập trung nhiều yếu tố thuận lợi: khí hậu trong lành mát mẻ; thắng cảnh thiên nhiên phong phú như: Cổng Trời, núi Cô Tiên, hang Khố Mỷ, nét đặc sắc của các nền văn hóa dân tộc Mông, Dao, Tày, Bố Y; các sản vật đặc trưng như hồng không hạt, rượu ngô Thanh Vân, thảo quả… Tại đây có 14 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc có một phong tục, tập quán truyền thống, tín ngưỡng riêng tạo nên một di sản văn hoá vật thể, phi vật thể không phải ở đâu cũng có, như lễ hội Gầu Tao, cấp sắc, hát giao duyên của dân tộc Dao; tiếng hát then với cây đàn tính của dân tộc Tày; lễ hội cầu mùa của dân tộc Nùng… Bên cạnh đó, Quản Bạ còn có các sản phẩm nổi tiếng như Rượu ngô Thanh Vân, hồng không hạt, thảo quả muối, chè Tùng Vài, thổ cẩm Lùng Tám, cùng với những sản phẩm văn hoá tinh tế như thổ cẩm, khèn, sáo được làm ra từ những bàn tay tài hoa, điêu luyện của đồng bào ở các làng nghề trong huyện… Đó là tiềm năng, lợi thế lớn làm nền tảng cho huyện Quản Bạ phát triển du lịch một cách bền vững.

Du lịch Hà Giang - Quản Bạ

Thung lũng Quản Bạ:

Quản Bạ là một trong những huyện có nhiểu điểm du lịch hấp dẫn ở Hà Giang. Nơi đây luôn là điểm đến không thể bỏ qua của khách du lịch khi tới vùng cao nguyên đá. Đặc biệt, đến Quản Bạ, du khách không nên bỏ qua 3 điểm du lịch hấp dẫn là núi đôi Quản Bạ, Cổng trời Quản Bạ và làng văn hóa du lịch Nặm Đăm.

Quản Bạ nằm cách thành phố Hà Giang chừng 46 km được con người ví như một “Đà Lạt” ở phía Bắc với khí hậu trong lành, mát mẻ và cảnh đẹp thiên nhiên hữu tình. Mỗi điểm đến ở Quản Bạ Hà Giang đều mang một nét đẹp riêng, đặc trưng của vùng núi Tây bắc.

Núi đôi Quản Bạ:

Núi đôi Quản Bạ hay còn gọi là núi đôi Cô Tiên là điểm đến hút khách du lịch nhất khi tới Quản Bạ Hà Giang. Danh thắng Núi Đôi thuộc thị trấn Tam Sơn và xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Cách thành phố Hà Giang 46km về phía Bắc. Nằm ở phía cuối con đường quốc lộ 4C trên đoạn rẽ vào thị trấn Tam Sơn, du khách sẽ bắt gặp 2 ngọn núi vô cùng đẹp mà đứng sừng sững nổi bật giữa núi đồi, giữa thung lũng hoa ruộng. Núi đôi giống như cặp nhũ hoa quyến rũ và cân đối cứ được thay đổi màu áo quanh năm theo mùa của cây cối nơi này. Khi vượt qua cổng trời Quản Bạ, du khách có dịp dừng chân chiêm ngưỡng Núi Đôi Quản Bạ, với “đôi gò Bồng Đào” do thiên tạo thật cân đối, quyến rũ. Đây thực sự là một cảnh quan karst độc đáo của thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ và của cả khu vực cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc. Cũng bắt đầu từ đây là cánh đồng Quản bạ thấp, phẳng, vì thế càng tạo không gian thoáng đãng cho “đôi gò” nhô cao, bay bổng.

Theo đánh giá của các nhà khoa học địa chất thì Núi Đôi được cấu tạo bằng đá Đôlômít. Do quá trình phong hóa đá lăn đồng đều theo sường núi làm lùi dần sườn và hạ thấp dần đỉnh núi. Cuối cùng tạo nên hình nón như hiện nay. Đá Đôlômít bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước chảy tràn trong mùa mưa. Đặc biệt, còn đóng vai trò trọng trong việc hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình chop nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn. Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu năm trở lại đây. Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu vực thị trấn Tam Sơn hiện nay. Danh thắng Núi Đôi Quản Bạ xếp hạng quốc gia ngày 16/11/2009.

Núi đôi Quản Bạ gắn liền với câu chuyện truyền thuyết Cô Tiên được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Truyện kể rằng xưa kia, ở vùng đất này có một chàng trai người H’mông tuấn tú, có tài thổi đàn môi. Tiếng đàn môi của chàng réo rắt đã níu giữ trái tim của một nàng tiên trên thượng giới tên là Hoa Đào. Phải lòng chàng nên nàng tìm cách ở lại vùng đất này. Họ nên vợ nên chồng và sinh được một bé trai kháu khỉnh. Ngọc Hoàng phát hiện ra chuyện Hoa Đào bỏ trốn xuống trần gian đã vô cùng giận dữ, sai người đi bắt nàng về. Thương chồng một mình nuôi con vất vả, thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi nhũ hoa của mình dưới hạ giới cho con bú. Đôi nhũ căng tròn nuôi con nàng ngày càng khôn lớn, sau này đã biến thành hai quả núi dáng hình như bầu vú mẹ tròn trịa, đều đặn đến lạ thường mà ngày nay vẫn gọi là Núi Đôi hay núi Cô Tiên ở Tam Sơn, Quản Bạ. Tương truyền nhờ dòng sữa của nàng mà vùng đất này có khí hậu vô cùng mát mẻ, các loại hoa trái như Đào, Mận, Lê, Hồng thơm ngon kỳ lạ, rau trái thì luôn xanh tươi, lúa ngô luôn tươi tốt trở thành vùng đất trù phú. Con gái ở đây xinh đẹp có tiếng, hai má lúc nào cùng ửng hồng, mịn màng như trái đào tiên. Và nước mắt của nàng đã biến thành dòng sông Miện xanh ngắt, mơ màng, khảm trôi trên biển đá tai mèo phún sắc, ôm lấy cả rẻo đất phía sau cổng trời huyền thoại..

Cổng trời Quản Bạ:

Cổng trời Quản Bạ nằm ở độ cao 1.500m so với mực nước biển là điểm đến lý tưởng cho du khách muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của toàn Quản Bạ từ trên cao. Đứng giữa cổng trời, có thể phóng tầm mắt bao quát cả thung lũng rộng lớn phía dưới với các cánh đồng Quản Bạ, Quyết Tiến, Thái An, Đông Hà, Cán Tỉ, Bát Đại Sơn. Những cánh đồng trải dài tựa tấm thảm mượt như nhung với những ô màu vàng rực của lúa chín chen lẫn những mảng lúa xanh non và sắc nâu trầm ấm của đất núi. Những mái nhà nhỏ xinh, ấm cúng nép mình bên thảm lúa. Nổi bật giữa thung lũng rực rỡ sắc màu ấy là ngọn núi đôi, còn gọi là núi Cô Tiên, như đôi gò bồng đảo của thiếu nữ mà thiên nhiên đã ban tặng cho Quản Bạ. Con đường tới cổng trời Quản Bạ ngoằn nghèo, khúc khuyủ, khúc khuỷu vắt ngang lưng những ngọn núi đá tai mèo cao vút trên cao nguyên đá Hà Giang. Con đường lúc lọt giữa hẻm núi sâu, hai vách dựng đứng, lúc chênh vênh giữa đỉnh trời, mở ra một biển mây bồng bềnh phía dưới thung lũng như trong tranh thuỷ mặc, lúc lại uốn lượn quanh sườn núi bao bọc những nương lúa rực rỡ sắc màu của bức tranh đồng quê thanh bình, đầm ấm. Khiến cho du khách có một trải nghiệm tuyệt vời khi đến thăm cổng trời Quản Bạ.

Làng văn hóa du lịch Nặm Đăm:

Thôn Nặm Đăm nằm cạnh thị trấn Tam Sơn khoảng hơn 2km, thuộc xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, giao thông đi lại thuận tiện, dân cư sống tập trung. Tổng diện tích tự nhiên của thôn là 458 ha. Thôn Nặm Đăm có 47 hộ, gồm 235 khẩu, là nơi sinh sống của người dân tộc Dao Chàm. Thôn còn giữ được nhiều nét bản sắc văn hóa, phong tục tập quán và nét sinh hoạt truyền thống. Những ngôi nhà nơi đây đều trình tường, mộc mạc, đậm nét văn hóa, kiến trúc của đồng bào dân tộc Dao.

Các nghi lễ truyền thống như: lễ hội Cầu mùa, lễ cúng Cơm mới, lễ Cưới hỏi, đặc biệt là lễ Cấp sắc. Lễ cấp sắc là nghi lễ đánh dấu tuổi trưởng thành cho các nam thanh niên trong làng. Bất kỳ người nam giới nào cũng phải trải qua lễ Cấp sắc mới được xem là người đã trưởng thành và được tổ tiên, dòng họ công nhận.

Dịch vụ ăn uống, lưu trú: Hiện nay ở trong làng văn hoá du lịch cộng đồng thôn Nặm Đăm đã xây dựng mô hình nhà lưu trú, và dịch vụ ăn uống cho khách du lịch ngay tại nhà dân, có 10 hộ gia đình, nhà nghỉ (Homestay), lên các menu thực đơn bao gồm các món ăn truyền thống của dân tộc Dao. Đã đưa vào sử dụng sẵn sàng đón khách.

Nhà văn hoá sinh hoạt cộng đồng: Thôn Nặm Đăm nằm ở vị trí trung tâm thôn, với tổng diện tích 86m2được xây dựng với kiến trúc nhà sàn truyền thống, chất liệu chủ yếu bằng gỗ, nền sân xi măng, là nơi trưng bày các sản phẩm, sản vật văn hoá dân tộc và là nơi hội họp sinh hoạt văn hoá của nhân dân, vừa là nơi quản lý hoạt động du lịch tại địa phương.

Hang Khố Mỷ (Xã Tùng Vài):

Hang Khố Mỷ, thôn Khố Mỷ, xã Tùng Vài nằm ở một vị trí giao thông thuận lợi với đường trải nhựa vào đến gần cửa hang và chỉ cách trung tâm Thị trấn Tam Sơn khoảng 20km.

Hang Khố Mỷ có một cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, mang sắc thái thơ mộng, huyền ảo. Bước vào trong hang bất cứ ai cũng không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của tạo hóa.

Những nhũ đá đẹp lộng lẫy với nhiều hình thù lạ mắt, những cột thạch nhũ cao sừng sững như khoe ra dáng vẻ bề thế, bên cạnh nhiều dòng thạch trắng chảy xuống như e ấp mà duyên dáng. Những làn sương trắng mỏng lan tỏa bên những dòng nhũ đá càng làm tăng thêm nét huyền bí, quyến rũ cho hang Khố Mỷ. Với địa hình, địa mạo là những phiến đá vôi, trải qua hàng nghìn năm, đã tạo nên nhiều hình thù độc đáo, có những phiến đá trông như hình con sư tử hoặc hình lọng của vua quan thời phong kiến, lại có những dòng thạch trắng chảy xuống như dòng thác bạc mà phải tận mắt chứng kiến mới thấy hết vẻ đẹp của nó. Bao quanh hang Khố Mỷ là một hệ sinh thái rừng vô cùng phong phú, bên những sườn núi là những chân ruộng bậc thang như những dải lụa mềm, uốn lượn, với những nóc nhà ẩn hiện trong sương. Chắc chắn, du khách sẽ còn nhớ mãi khi tận mắt được chiêm ngưỡng những kiệt tác nghệ thuật kì bí và tinh tế nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho con người nơi đây.

Chợ phiên xã Quyết Tiến:

Đến Hà Giang mà bỏ qua chợ phiên thì hẳn là thiếu sót lớn. Mọi nét văn hóa đời sống dường như đều hội tụ đủ cả ở đây. Cái cảm giác tự cho mình lạc vào một không gian nho nhỏ, xa lạ và rất ngỡ ngàng. Mọi hình ảnh đều mới, ánh mắt du khách cũng lấp lánh như trẻ thơ

Có một địa danh nằm ngay dưới chân mỏm núi Cổng Trời, đó chính là xã Quyết Tiến mộc mạc, đơn sơ bên cổng trời sừng sững quanh năm mây phủ. Ở nơi yên bình ấy, mỗi tuần lại có một buổi chợ phiên diễn ra trong một buổi sáng thứ 7 ngắn ngủi, đó là chợ phiên xã Quyết Tiến (Huyện Quản Bạ – Hà Giang).

Một số địa điểm du lịch khác:

Làng văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Dao thôn Trúc Sơn: Là một ngôi làng cổ của đồng bào dân tộc Dao. Đến với Trúc Sơn, quý khách sẽ được tìm hiểu về kiến trúc nhà cổ, văn hóa ẩm thực, về cuộc sống và lòng hiếu khách của con người nơi đây.
Xã Cán Tỷ: Nằm bên dòng sông Miện hiền hòa, nơi có Cổng thành – một trong những dấu ấn cho cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng là nơi còn lưu giữ nghề dệt Lanh truyền thống của người dân địa phương.

Hợp tác xã dệt lanh truyền thống Hợp Tiến, xã Lùng Tám.

Xã Thái An : Có Hồ thủy điện Thái An, có Núi Ba Tiên cùng hệ thống nhiều hang động đẹp, nguyên sơ dưới chân núi.

3. Huyện Yên Minh

... từ đoạn xã Na Khê cho đến Thị trấn Yên Minh, đoạn quốc lộ 4C với hai bên đường bạt ngàn thông

Nằm ở trung tâm của công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn, Yên Minh được biết với những giá trị văn hóa lâu đời. Từ thành phố Hà Giang đi ngược về phía Bắc 100 km, sẽ tới với huyện vùng cao miền núi Yên Minh, nằm ở nơi có vị trí địa lý thuận lợi với diện tích tự nhiên 783,65  km2, hàng năm Yên Minh đã thu hút hàng nghìn du khách tới nghỉ ngơi và thăm quan du lịch. Đây là nơi cư trú, sinh sống của 15 dân tộc anh với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như rừng Thông xã Lao Và Chải; ruộng bậc thang Sa Lỳ (xã Ngam La); rừng nguyên sinh xã Du Già với những hệ động, thực vật phong phú đa dạng, trong đó có nhiều loài quý hiếm; Hệ thống hang động lý tưởng cho du khách thăm quan như: Hang Nà Luông xã Mậu Long, hang Nà Lèng thôn Bục Bản-Thị trấn Yên Minh... 

Yên Minh cũng là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá như: Khu di tích Cách mạng Đường Thượng , Cổng thành Lao Và Chải; với các lễ hội truyền thống đặc sắc của các dân tộc như: Lễ hội Gầu tào dân tộc Mông, Lễ hội Lồng Tông dân tộc Tày - Nùng, Lễ Gọi Trăng của dân tộc Tày, Lễ Cấp sắc dân tộc Dao, Lễ thượng thọ, Lễ cưới...và nhiều nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc Mông, Giáy, Nùng, Tày như các điệu hát phươn, cọi, các làn điệu dân ca đang được các dân tộc huyện Yên Minh gìn giữ, bảo tồn và khôi phục. Ngoài ra, Yên Minh còn có nhiều nghề truyền thống như: nghề rèn, dệt lanh, đan lát và nhiều đặc sản nổi tiếng như: Mật ong, quả Xoài, gạo thơm...

Lao Và Chải:

Là điểm dừng chân lý tưởng đầu tiên khi tới với huyện Yên Minh, ở đây quanh năm khí hậu mát mẻ, có những rừng thông vi vu gió. Điểm dừng chân nhà sàn được huyện Yên Minh đầu tư xây dựng với thiết kế nhà sàn của người dân tộc Tày, ở vị trí này, bao quát tầm mắt ra xa, du khách có thể thỏa sức ngắm những nét đẹp nguyên sơ của những ngọn núi đá vôi cao sừng sững trên cao nguyên đá. Với khí hậu mát mẻ quanh năm, Lao Và Chải được ví như " thảo nguyên xanh" cho bất kỳ du khách nào có dịp đi qua nơi này. Và khi dừng chân tại nhà sàn đón khách, du khách sẽ bị cuốn hút bởi những đặc sản, sản vật và những món quà mà núi rừng và con người Yên Minh mang lại, từ mật ong bạc hà, tinh dầu ngọc am, những bộ trang phục thổ cẩm tới những viên đá trang trí được mài rũa một cách tinh xảo... và bất kỳ ai qua đây cũng đều muốn mang một món quà cao nguyên về làm quà cho người thân ở miền xuôi ....

Hang Nà Luồng:

Hang Nà Luồng nằm cách trung tâm thị trấn Yên Minh khoảng 25km, thuộc địa phận thôn Nà Luồng, xã Mậu Long và giáp với xã Lũng Phìn của huyện Đồng Văn. Hang Nà Luồng mới được tìm thấy năm 2010 được đánh giá là hang đẹp nhất so với các hang đã từng được phát hiện ở Hà Giang. Cửa hang rộng trên 30 mét được che phủ bởi rừng cây nghiến, đinh, lát và dây leo chằng chịt, lòng hang rộng và sâu hàng ngàn mét. Khi đến đây bạn có thể chiêm ngưỡng những nhũ đá đẹp ngay từ cửa hang và kéo dài suốt chiều dài, rộng của hang. Dọc lối đi trong hang là những khối đá có hình thù giống cá, lợn rừng, trâu rừng…

Động Én:

Động cách thành phố Hà Giang 60 km (37,5 dặm) thuộc địa phận huyện Yên Minh. Từ thành phố Hà Giang đi qua cổng trời Quản Bạ, qua những cách rừng thông sẽ tới động Én hang động còn mang nhiều nét hoang sơ nhưng đẹp. Khi đến đây nhiều du khách đã không khỏi bàng hoàng, sửng sốt khi được trực tiếp chiêm ngưỡng những hình ảnh nhũ đá và không gian bên trong động. Động én là một điểm du lịch hấp dẫn của du khách khi đến với Hà Giang.

Rừng Thông Yên Minh:

Huyện Yên Minh cách Hà Giang khoảng 100km về phía Đông Bắc, đi theo đường quốc lộ 4C chạy từ Cán Tỷ lên tới trung tâm phố huyện ngang qua ba xã: Bạch Đích, Na Khê, Lao Và Chải.

Ở Yên Minh thông mọc trải dài trên các đồi thấp dọc theo con đường lên tới thảo nguyên Yên Minh. Thị tứ Yên Minh nhỏ nhắn nằm ngay trên đường tỉnh lộ bắt đầu từ đoạn xã Na Khê cho đến Thị trấn Yên Minh, đoạn quốc lộ 4C với hai bên đường bạt ngàn thông, cảnh sắc hai bên khá giống với con đường lên Đà Lạt, những cánh rừng thông non bao bọc thung lũng yên bình, quanh năm khí hậu mát mẻ. Với những người lần đầu đến với mảnh đất này, sẽ có cảm giác đang ghé thăm một Đà Lạt thứ hai với những đồi thông bạt ngàn, những thảm cỏ xanh và vô số những mái nhà nhấp nhô sau rặng núi xa xa.

4. Huyện Đồng Văn

Thung lũng Sủng Là:

Sủng Là là một thung lũng nằm trên tuyến quốc lộ 4C từ hướng Yên Minh lên thị trấn Đồng Văn. Sủng Là nằm cách huyện Đồng Văn hơn 20km vì đây là tuyến đường chính nên khi đến thị trấn Đồng Văn chúng ta sẽ chắc chắn đi qua Sủng Là. Từ Yên Minh lên thị trấn Đồng Văn đến ngã ba Phó Bảng nơi con đèo xinh đẹp ôm trọn một thung lũng xanh là điểm cao và đẹp nhất để ngắm toàn cảnh Sủng Là. Nơi đây cũng chính là xã vùng cao đẹp nhất trong toàn cao nguyên đá Đồng Văn. Từ trên con đường vắt vẻo lưng chừng trời nhìn xuống, bạn sẽ thấy Sủng Là như một bức tranh thiên nhiên thanh bình, xinh đẹp. Sủng Là nằm giữa những dãy núi đá tai mèo nhấp nhô, thâm sẫm một màu, những ngôi nhà vững chãi với mái đã phai màu thời gian. Trên gác, màu của ngô lẫn trong đám đỗ tương được phơi khô, các cô gái Sủng Là ngồi dệt bên khung cửi, tạo thành một khung cảnh vô cùng gần gũi và bình dị. Người Mông ở Sủng Là trồng tam giác mạch và hoa cải trên đồi đất cao, trồng ngô, lúa ở vùng đất bằng nơi đáy thung lũng. Chen lẫn trong màu xanh non của ngô, lúa, màu tím hoa cà của hoa tam giác mạch và màu vàng của  nắng là màu xanh đậm của rừng sa-mu sừng sững giữa đất trời. Mùa xuân là mùa đẹp nhất của mảnh đất này khi những vạt hoa nở khắp vùng cao nguyên đá. Những cánh đồng hoa làm khung cảnh thiên nhiên vốn khắc nghiệt, lạnh lẽo biến thành một bức tranh tuyệt mỹ.

Ốc đảo Sủng Là lên phim: Người Hà Giang còn gọi Sủng Là là “ốc đảo”, bởi nơi đây vốn là thung lũng nằm gọn trong cao nguyên đá Đồng Văn. Còn những người thích du lịch bụi gọi Sủng Là là “đóa hoa hồng” của cao nguyên đá. Nơi đây đã được chọn làm bối cảnh cho bộ phim nổi tiếng “Chuyện của Pao”, dựa theo truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” của nhà văn Đỗ Bích Thúy. Với bộ phim này, điện ảnh đã đem đến cho công chúng những cảnh sắc tươi đẹp của non sông đất nước Việt Nam.

Làng văn hoá du lịch Lũng Cẩm:

Đến với làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm thuộc xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, sẽ để lại trong lòng mỗi người những cảm nhận đặc biệt về vẻ đẹp nhân văn, những nét đặc sắc trong văn hóa vật thể và phi vật thể vẫn được bảo tồn lữu giữ gần như nguyên vẹn ở nơi đây. Ngôi làng được hiện hữu giữa thung lũng thơ mộng, với 61 hộ dân sống trong những ngôi nhà trình tường cổ, có những ngôi nhà được làm cách đây gần 100 năm. Cùng sinh sống, an cư ở đây, có 3 dân tộc đó là dân tộc Lô Lô, dân tộc Mông và dân tộc Hán. Trong đó dân tộc Mông chiếm 85% dân số trong làng và có nhiều nghệ nhân còn lưu giữ rất nhiều bài hát của dân tộc mình với những bài dân ca, dân vũ, nhạc cụ đặc trưng của dân tộc. Các nguyên liệu làm nên những ngôi nhà nơi đây được lấy và sản xuất tại chỗ, từ đất để trình tường nhà, ngói, gỗ, kể cả hàng rào đá xung quanh nhà; Quá trình dựng nhà của người dân vùng cao phía Bắc nói chung và người dân nơi đây nói riêng đều được làm thủ công 100%. Các công cụ lạo động phải ánh về lao động sản xuất, sinh hoạt đời sống của người dân người dân ở nơi đây sẽ là những khám phá bất ngờ thú vị cho các du khách đến thăm quan. Tất cả toát lên sự cần cù chịu khó của người dân cũng như nét sinh hoạt văn hoá của họ và mang cả hơi thở cuộc sống đặc trưng của dân tộc ở vùng cao. Cũng chính vì vậy, mà nơi đây thu hút nhiều nhà nhiếp ảnh, nhà làm phim và là nơi khởi nguồn sáng tác cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, trong đó điển hình: Làng Lũng Cẩm đã được chọn làm điểm đóng phim nhựa “Chuyện của Pao” bộ phim này đã đạt giải thưởng “Cánh diều vàng” của Hội điện ảnh Việt Nam.

Thị trấn Phó Bảng:

Phó Bảng là thị trấn thuộc huyện Đồng Văn, cách thành phố Hà Giang 117 km. Nơi đây tập trung chủ yếu là người dân tộc Hoa và người dân tộc H’mông với khoảng 500 người. Người Hoa đến đây lập nghiệp và xây dựng lên khu phố này cũng đã gần 2 thế kỉ. Họ ghi dấu bằng vẻ khác biệt của những ngôi nhà trình tường với mái ngói âm dương độc đáo. Cái kiến trúc hòa quyện giữa đất và gỗ này tưởng chừng đơn giản, không mấy đặc biệt nhưng càng nhìn kĩ ta bị mê hoặc bởi cái màu nâu trầm mặc đó. Lang thang trên con đường trong thị trấn, ngắm nhìn những ngôi nhà có khung cửa số bằng gỗ nho nhỏ nơi có các cô gái H’mông đang tỉ mẩn bên máy khâu ta mới thấy hết cái vẻ bình lặng của nơi đây. Những bản quần cư cũ kĩ với tường đất và cột kèo nhuốm màu thời gian, mái ngói âm dương xám màu sương gió, con đường vào Phó Bảng cứ hun hút đến chân trời. Một điểm hấp dẫn khi đến Phó Bảng là được ngắm những dải hoa hồng vươn mình khoe sắc mỗi sớm mai. Không phải hồng nhung đặm sắc, bông to, cũng không phải hồng sắc thắm, những bông hoa hồng nơi đây không to nhưng màu lại thắm. Nào là hồng phai, hồng đỏ hay hồng mận, bông nào cũng tươi tắn như được hấp thụ được khí trời trên Cao nguyên đá. Thật ngỡ ngàng khi đang đi theo con đường uốn lượn vào thị trấn, bất chợt ta bắt gặp một thung lũng ngập tràn sắc hoa hồng, đẹp như tranh vẽ. Ở Phó Bảng, thời gian cứ chậm chạp trôi như vậy. Chỉ khi đến những buổi chợ phiên, nàng công chúa lâu ngày mới được đánh thức. Chợ Phó Bảng nằm ngay khu phố chính, họp phiên 6 ngày một lần. Đến ngày họp chợ, người dân khắp nơi hối hả, tấp nập mang theo đủ các thứ hàng đến. Những chợ lợn, chợ gà, chợ ngựa và đủ loại hàng tiêu dùng theo chân người dân tụ họp về buổi sáng. Kết thúc phiên chợ lúc trời chiều cũng là lúc thị trấn lại trở về với vẻ yên ả vốn có của nó.

Cột cờ Lũng Cú:

Cột cờ Lũng Cú là một cột cờ quốc gia nằm ở đỉnh Lũng Cú, hay còn gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn), có độ cao khoảng 1.700m so với mực nước biển, thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi điểm cực Bắc của Việt Nam. Lũng” trong tiếng H’mông là ngô, Lũng Cú là thung lũng ngô, sở dĩ có tên như vậy vì nơi đây có những cánh đồng lớn đều trồng ngô. Có một cách giải thích khác mang màu sắc huyền thoại về ngọn núi Lũng Cú, hay còn gọi là núi Rồng, núi Long Cư, tức nơi rồng thiêng từng cư ngụ. Từ trên đỉnh Lũng Cú nhìn về phía tây có hai hồ nước, mặc dù ở độ cao chót vót này nhưng nguồn nước luôn trong xanh không bao giờ cạn, được người dân coi là “long nhãn” (mắt rồng). Tương truyền xưa kia, cư dân vùng này luôn thiếu nước sinh hoạt, điều đó đã làm cho rồng thiêng động lòng trắc ẩn nên trước khi bay về trời đã để lại đôi mắt cho dân làng, tạo thành hai hồ nước ngày nay. Cột cờ Lũng Cú có lịch sử rất lâu đời, trải qua nhiều lần phục dựng, tôn tạo. Cột cờ mới hình bát giác có độ cao trên 30m được khánh thành ngày 25 tháng 9 năm 2010.

Du lịch Hà Giang - cột cờ Lũng Cú

Lịch sử dựng cờ: Cột cờ Lũng Cú là một điểm nhỏ trên đoạn đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành một chóp nón thì hai điểm cao nhất và thấp nhất theo vĩ độ là Apachải, tỉnh Điện Biên và Sa Vĩ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Lũng Cú là đỉnh của chóp nón này, cũng là điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam. Cảnh quan dưới chân cột cờ là núi non trùng điệp xen kẽ bởi những khoảnh ruộng bậc thang tạo nên một vẻ đẹp rất hoang dã, đặc trưng của vùng Tây Bắc, địa đầu của Việt Nam. Cột cờ Lũng Cú được xây dựng đầu tiên từ thời Lý và ban đầu chỉ làm bằng cây sa mộc. Cột được xây dựng lại từ thời Pháp thuộc, năm 1887. Những năm sau đó như 1992, 2000 và đặc biệt năm 2002 cột cờ tiếp tục được trùng tu hoặc xây dựng lại nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian, trong đó năm 2002 cột cờ được dựng với độ cao khoảng 20m, chân và bệ cột có hình lục lăng và dưới chân cột là 6 phù điêu họa tiết bề mặt trống đồng Đông Sơn. Trên đỉnh cột là cán cờ cao 9m cắm quốc kỳ Việt Nam có có chiều dài 9m, chiều rộng 6m và tổng diện tích rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam.

Cột cờ hiện nay: Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang, Ủy ban Nhân dân huyện Đồng Văn tiến hành xây dựng cột cờ mới với chiều cao 33,15m (hơn cột cờ cũ 10m) trong đó phần chân cột cao 20,25m, đường kính ngoài thân cột rộng 3,8m. Kiểu dáng bát giác của cột cờ khá gần với kiểu cột cờ Hà Nội. Chân, bệ cột cờ có 8 mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn mặt của trống đồng Đông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của các dân tộc ở tỉnh Hà Giang. Thân cột cờ có cầu thang bộ đi lên đỉnh. Trên đỉnh cột là quốc kỳ Việt Nam với cán cờ cao 12,9m và lá cờ, cũng tương tự như những lá cờ sử dụng trước đó, có diện tích 54m2.

Đường lên đỉnh núi có cột cờ cũng được xây dựng lại với 389 bậc đá lên theo lối cũ và đồng thời xây một lối đi mới cũng có số lượng bậc là 389 đi xuống. Dưới chân cột là nhà lưu niệm trưng bày các dụng cụ lao động, trang phục, sản phẩm văn hóa của các dân tộc tỉnh Hà Giang.

Trong lễ khánh thành cột cờ mới, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Hoàng Minh Nhất phát biểu: "việc trùng tu, nâng cấp cột cờ Lũng Cú lần này nhằm khẳng định vị thế của đất nước, chủ quyền của Tổ quốc và tôn vinh tinh thần yêu nước, anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc của đồng bào, chiến sĩ nơi đây." Đại tá Lê Trân, chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện Đồng Văn, nói chính anh là tác giả của con số 389 bậc đá lên cột cờ Lũng Cú:

“Thông thường, khi tính con số đẹp, người ta hay chọn “9 nút”. Riêng tôi lại nghĩ: nhất chín, nhì bù. Đã đành, số 9 là con số đẹp nhất, nhưng số 10 lại tính thêm được phần “bù” của những người lính bảo vệ biên cương chúng tôi. Khi cầm súng ở địa đầu Tổ quốc này, chúng tôi nghĩ cả đất nước luôn đứng đằng sau mình, luôn “bù” cho mình tất cả những tình cảm thiết tha yêu mến nhất. Cột cờ Lũng Cú tượng trưng cho ý chí và sự kiên định bảo vệ từng tấc đất từ

xem nhiều trong tuần

tour hot

Thông tin liên quan
Tìm khách sạn theo các tỉnh thành
Danh hiệu