HANOTOURS - Trao dịch vụ, nhận nụ cười

: 1900 0059

: 024 7309 0009

: 0902 005 009

Thông tin du lịch Lào

THÔNG TIN DU LỊCH LÀO

- Vị trí địa lý: Nước Lào nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Châu Á, không có biển, bao quanh là lục địa. Có đường biên giới tiếp giáp với Việt Nam ở phía Đông, Campuchia ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Myanma và Trung Quốc ở phía Bắc

- Diện tích: 236.800km2

- Dân số: Khoảng 6.6 triệu người (2010)

- Mật độ dân số: 27 người/km2

- Ngày Quốc khánh: 02/12/1975

- Thủ đô: Viêng Chăn (VIENTIANE)

- Quốc kì: Quốc kì của Lào hiện nay có hình chữ nhật, được chia thành 03 dải ngang, gồm một dải màu xanh ở giữa và hai dải màu đỏ ở phía trên và phía dưới. Ở giữa dải xanh có một hình tròn màu trắng

- Ngôn ngữ chính: Tiếng Lào

- Ngôn ngữ khác: tiếng Việt, Anh, Pháp

- Tôn giáo chính: Phật giáo

- GDP: 7,7%/năm (2010), dự kiến năm 2011 đạt 8,5%

- Thu nhập bình quân đầu người: 960 USD/năm (năm 2010)

- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt  Nam: 05-9-1962

- Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Việt Nam 18/7/1977

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Đ/c Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn

- Chủ tịch Quốc hội: Đ/c Pa- ny Ya- tho- tu

- Thủ tướng Chính phủ: Đ/c Thong- sing Thăm- ma- vông

- Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao: Đ/c Thoong-lun Si-su-lít

- Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới, có 02 mùa rõ rệt, gồm mùa mưa và mùa khô; mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

- Giao thông: Có giao thông đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không

- Văn hoá: Chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, tiêu biểu nhất là văn hoá Phật giáo. Do vậy, trên khắp đất nước Lào, đền chùa được xây dựng rất nhiều, với quy mô lớn và rất đẹp; có những ngôi chùa trở thành di sản văn hoá thế giới

- Hành chính của Lào: Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn cấp gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh; có 17 tỉnh, thành phố và thủ đô Viêng Chăn. Cấp địa phương dưới tỉnh là quận, huyện, thị xã; cấp địa phương thấp nhất là bản (bản tương đương cấp xã của Việt Nam)

- Tài Nguyên thiên nhiên: Lào rất giàu có và phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên như:+ Tài nguyên đất: có 3 loại đất chủ yếu như đất phù sa, đất đỏ và đất vùng núi đồi, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm - nghiệp.

+ Tài nguyên rừng: Rừng của Lào chiếm 67% diện tích toàn nước Lào, có nhiều loại gỗ quý hiếm với trữ lượng lớn và có giá trị kinh tế cao

+ Tài nguyên khoáng sản: Các mỏ kim loại quý như: mỏ vàng, bạc, sắt, đồng, quặng bô xít, than đá,… đặc biệt, Lào có tiềm năng rất lớn về thuỷ điện

Du lịch Lào mùa hè

Nước Lào có những phong tục và văn hoá rất độc đáo như

1. Phong tục chào

Người Lào thường chào nhau bằng một cử chỉ giống như cầu nguyện được gọi là cúi chào (nop). Người trẻ tuổi hơn hoặc ở vị trí thấp hơn luôn cúi chào người lớn tuổi hơn hoặc ở địa vị cao hơn. Tục bắt tay khi gặp nhau của người phương Tây rất phổ biến trong những năm gần đây. Tuy nhiên, một nụ cười kèm theo một cái đầu hơi cúi được cho là lịch sự. Tỏ ra quá sốt sắng, thể hiện tình cảm trước công chúng, các cử chỉ khoa tay múa chân đều được xem là không lịch sự.

Đầu là bộ phận cao nhất của cơ thể, chân là bộ phận thấp nhất về nghĩa đen và nghĩa bóng. Chạm vào đầu một người nào đó hoặc chỉ vào một người hay một vật bằng chân được xem là cực kỳ thô lỗ. Cũng giống như ở các đền thờ, chúng ta cần bỏ giày dép ra trước khi vào nhà.

2. Ẩm thực

Có đến 90% dân Lào ăn xôi và ta có thể thấy xôi trong bất kỳ bữa ăn nào của người Lào, thức ăn của người Lào thường được bày vào một đĩa lớn, thức ăn kèm với xôi là Lạp, Koy, Ping. Người Lào sống gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ nên thích ăn những thức ăn tươi sống lấy từ núi rừng như thịt gà, thú rừng vừa mới săn bắn, cây lá…

Thức ăn phổ biến thứ hai là Lạp. Lạp được làm từ thịt gà, thịt vịt, thịt bò… Có lúc Lạp làm bằng thịt hổ, “Hổ Lạp” thường được ăn sống, nhưng phần lớn các bạn được phục vụ các món ăn nấu chín từ nhà hàng. Thỉnh thoảng bạn được phục vụ những thức ăn nguội với các loại rau sống và nước dừa, các món ăn này được phục vụ trong những bữa tiệc chiêu đãi, đám cưới hay những buổi tiệc quan trọng khác. Người nước ngoài rất thích món ăn này. Một món ăn địa phương được nhiều người ưa thích đó là món Or lam của vùng Luang Prabang. Nhìn chung, thức ăn Lào đơn điệu cả về hình thức lẫn nội dung. Phần lớn khách du lịch đến Lào không quen ăn những thức ăn Lào.

3. Nhà cửa

Nhà người Lào được xây bằng cột nhà sàn. Có hai loại nhà: nhà kiểu mái đơn và mái đôi. Số lượng bậc thang phụ thuộc vào chiều cao của nhà nhưng thông thường người Lào thường làm số bước lẻ như 3,5,7,9 bước.

4. Lễ buộc chỉ tay

Mục đích: có nhiều dịp để người ta tổ chức Lễ buộc chỉ tay, mục đích của buổi Lễ buộc chỉ tay là để thắt chặc tình cảm của những người bạn, người thân lâu ngày không gặp nhau và cầu chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Mục đích cụ thể của từng buổi lễ tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ của những người tham dự.

4.1. Đối với khách quí từ phương xa đến: Nhằm thể hiện sự tôn trọng, sự thân thiện mến khách của chủ nhà, mong muốn giữ lại những kỉ niệm và cầu chúc nhau cùng tiến bộ, phát triển với những lời chúc tốt nhất.

4.2. Những người trong gia đình (đi công tác xa về, sắp đi công tác hoặc bệnh mới bình phục). Chúc đem lại sự bình an, công tác thành đạt, mau chóng bình phục trở lại công việc, chúc những điều tốt lành cho người thân của mình. Việc sinh nở con trai con gái người ta cũng là lễ buộc chỉ tay ăn mừng.

4.3. Nhân các ngày lễ lớn, mừng họp mặt gia đình hoặc để hoà chung không khí vui của ngày lễ, ngày hội. Những ngày này, người ta cũng chúc nhau những điều tốt đẹp nhất.

- Hình thức tổ chức: Tuỳ mức độ quan hệ, đời sống kinh tế mà hình thức tổ chức buổi lễ buộc chỉ tay cũng khác nhau (tốn kém, trung bình …).

Cách thức tổ chức

Chủ nhà chuẩn bị sẵn một cây trang trí, trên có gắn hoa trang trí cho đẹp và các sợi chỉ để sau lấy xuống buộc chỉ tay. Cây trang trí đặt trên một thảm nhỏ, chung quanh đặt nhiều đĩa hoa quả, trái cây, gà và rượu (rượu gạo, rượu nếp).

Bắt đầu lễ, mọi người ngồi quây quần xung quanh cây trang trí, Già làng đọc bài kinh cầu chúc điều tốt lành (các bài đọc này khác nhau tuỳ theo tính chất từng buổi lễ). Đọc khoảng 15 phút, mọi người im lặng lắng nghe, hai tay chắp phía trước, ngồi xếp hai chân một bên hoặc ngồi xếp bằng.

Đọc xong, Già làng lấy chỉ buộc cho khách quý, vừa buộc vừa cầu chúc (nói tiếng Lào), để đáp lễ khách phải làm tương tự (lấy dây chỉ xuống và buộc cổ tay cho Già làng và cầu chúc (tiếng mẹ đẻ).Mọi người xung quanh sẽ làm tương tự, thời gian dự kiến: Từ 30 – 45 phút.

5. Tết cổ truyền Bunpimay của nhân dân Lào

Người Lào cũng đón năm mới dương lịch như các nước khác trên thế giới, nhưng Tết Lào - Tết Cổ truyền Bunpimay (còn gọi là Pi Mày, Koud Song Kane hay Bunhot Nậm có nghĩa là Hội té nước) là lễ hội truyền thống lớn nhất ở đất nước triệu voi này.

Theo truyền thống, Tết Lào diễn ra trong suốt tháng thứ năm Phật lịch, bắt đầu từ ngày thứ sáu của tháng thứ năm và kết thúc vào ngày thứ năm của tháng thứ sáu, trong đó ngày lễ chính Wun Salong được tổ chức vào dịp trăng tròn. Hiện nay Tết Lào được tổ chức từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 dương lịch hàng năm, khi bầu trời thanh cao, các dòng sông lớn đều dồi dào nước tượng trưng cho một năm mới nhiều lộc.

Tết Bunpimay diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên cũng là ngày cuối cùng của năm cũ, người ta lau dọn sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ. Ngày thứ hai không được tính đến vì đó là giao thời giữa năm cũ và năm mới. Hội bắt đầu vào ngày cuối cùng với nhiều hoạt động tưng bừng khắp nơi. Ngày cuối cũng là ngày kết thúc tuần trăng. Trong ba ngày này người Lào được nghỉ, không làm việc và cũng không có các hoạt động buôn bán.

Nguồn gốc ngày Tết Bunpimay:

Đầu tiên Tết Lào được tổ chức vào ngày đầu tiên của tháng Một. Tuy nhiên, thời điểm đó vào mùa đông, không thích hợp cho phong tục té nước nên ngày này đã được chuyển sang thời điểm nóng nhất trong năm. Đây cũng là thời gian ngày thường dài hơn đêm, ngày dài nhất có thể đến 14 tiếng 24 phút.

Theo các sử gia Lào, tổ tiên người Lào đến từ phía Nam Trung Quốc và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ nên lấy ngày, tháng, năm theo Ấn Độ.

Riêng Tết Lào là lấy theo người Mon-Phama và người Khmer.

Người Ấn Độ coi trọng thời điểm ngày dài hơn đêm và gọi đó là Watthanasagn, có nghĩa là “nhiều bóng râm”. Khi đó mặt trời mọc ở phía Bắc và bắt đầu mùa mưa, thuận lợi cho trồng trọt hơn các mùa khác trong năm.

Ngoài ra, Tết Lào còn xuất phát từ một truyền thuyết về cuộc đấu trí giữa Thammabane và Kabinlaphom. Thời xa xưa, từ trước khi Phật giáo ra đời, có một chàng trai con nhà phú nông tên là Thammaphala hay còn gọi là Thammabane rất nhanh trí và hiểu được tiếng chim. Thammabane thường di khắp nơi để truyền dạy kiến thức.

Thời gian đó người dân vẫn coi Kabinlaphom, thần của bầu trời là người thông thái nhất. Khi biết tin dưới trần gian có Thammabane là một người rất hiểu biết, Kabinlaphom muốn thi tài với Thammabane. Ông ta đặt ra ba câu hỏi để Thammabane trả lời, nếu Thammabane trả lời được thì Kabinlaphom sẽ phải dâng đầu mình và ngược lại.

Ba câu hỏi đó là:

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi sáng?

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi chiều?

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi tối?

Thammabane không thể trả lời ngay, nhưng anh xin Kabinlaphom thêm 9 ngày nữa. Thammabane ra sức suy nghĩ nhưng vẫn không tìm được đáp án. Ba ngày trôi qua, đã quá mỏi mệt, anh ngủ gật dưới gốc cọ thì nghe hai vợ chồng đại bàng nói chuyện trên đầu mình. Đại bàng vợ hỏi: “Ngày mai chúng ta sẽ ăn gì đây?”. Đại bàng chồng trả lời: “Đừng lo, chúng ta sẽ ăn thịt Thammabane, vì anh ta sẽ không thể trả lời được 3 câu hỏi của Kabinlaphom và sẽ bị giết”. Khi đại bàng vợ hỏi về câu trả lời, đại bàng chồng đã nói:

-Thần sắc con người vào buổi sáng tập trung ở khuôn mặt, vì vậy buổi sáng con người phải rửa mặt

-Thần sắc con người vào buổi chiều tập trung ở ngực, vì vậy con người thường tắm vào buổi chiều

-Thần sắc con người vào buổi tối tập trung ở tay và chân, vì vậy con người thường rửa chân tay trước khi đi ngủ

Nhờ biết được tiếng chim, Thammabane nghe rõ ba câu trả lời và sau đó trở lại gặp Kabinlaphom. Theo cam kết, Kabinlaphom phải chặt đầu mình. Tuy nhiên, trước khi chặt đầu, Kabinlaphom dặn bảy cô con gái của mình giữ gìn cái đầu cẩn thận, vì nếu đầu ông ta rơi xuống đất sẽ xảy ra hỏa hoạn, ném lên trời sẽ gây ra hạn hán, còn ném xuống biển thì biển sẽ khô cạn. Bảy con gái của Kabinlaphom đặt đầu cha trên một cái đĩa vàng và thờ ở động Khanthoumali, núi Phoukhaokailat. Hàng năm, các cô lần lượt đến đây rửa sạch đầu cha và đặt trở lại vào động.

- Tên của bảy cô con gái Kabinlaphom là Thoungsatheve, Khorakham, Rarksa, Mountha, Kirinee, Kinitha và Manothone. Tất cả bảy cô được gọi chung là Nang Sangkhane.

6. Các phong tục trong Tết Bunpimay

6.1. Té nước:

Vào ngày đầu tiên của Tết Lào, người ta quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ, chuẩn bị nước thơm và hoa. Nước thơm là một hỗn hợp gồm nước, nghệ, bồ kết nướng, hoa và dầu thơm. Nước được ướp hương hoa hoặc hương liệu thiên nhiên. Về sau người ta còn cho cả kem và bột.

Vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để té nuớc thơm ấy vào người làm phước. Người ta còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa.

Để tỏ lòng tôn kính người trẻ tuổi té nước những người lớn tuổi để chúc sống lâu và thịnh vượng. Bạn bè té nước vào nhau. Họ không chỉ té nước vào người mà còn vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất.
Người Lào tin rằng nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe. Ai bị ướt nhiều là hạnh phúc nhiều.

Tục lệ té nước (tạt nước) trong ngày tết của Lào cũng có phần do thời tiết nóng bức (tháng 4 là thời điểm nóng nhất ở Lào). Trước khi té nước cho nhau, người ta thường dành cho nhau những lời chúc tốt lành.

6.2.Xây tháp cát:

Cát được đưa đến sân chùa và trang trí trước khi dâng cho các nhà sư để tỏ lòng thành kính. Có hai cách để làm tháp bằng cát. Người ta có thể làm ngay tại bãi biển hoặc dâng cát cho chùa. Tháp cát được trang trí bằng cờ, hoa, dây vải trắng và vẩy nước thơm. Các tháp cát này tượng trưng cho núi Phoukaokailat nơi bảy con gái của Kabinlaphom thờ đầu cha mình và được dâng cúng để cầu sức khỏe, hạnh phúc trong năm mới.

6.3. Phóng sinh:

Các loài động vật như rùa, cá, cua, chim, lươn và các con vật nhỏ khác được phóng sinh. Người ta tin rằng trong dịp Tết ngay cả động vật cũng cần được tự do. Một số người phóng sinh động vật với số lượng trùng với tuổi của con vật.

6.4. Hái hoa tươi:

Vào các buổi chiều, sư trụ trì hướng dẫn các nhà sư, ni cô và dân làng đi hái hoa tươi đem về chùa cúng Phật. Trong khi đi hái hoa người ta chơi trống và các nhạc cụ cổ truyền. Những người khác thì đem nước đến lau rửa hoa.

6.5. Ăn món Lạp:

Trong ngày Tết, người Lào rất chú trọng tới việc ăn món Lạp, đặc biệt là các doanh nhân. Theo ngôn ngữ của nước này, lạp có nghĩa lộc. Lạp ở đây thường được làm bằng thịt gà hay thịt bò tươi sau đó đem trộn với gia vị. Đặc biệt, món này mà không có thính thì sẽ làm giảm hương vị độc đáo của chúng. Trong mỗi gia đình, đặc biệt là những người làm nghề kinh doanh, món lạp thường được các đầu bếp làm rất công phu, vì nếu món này trong ngày Tết mà không ngon thì họ thường ví năm mới làm ăn có nhiều điềm xui. Lạp thường được ăn với xôi nóng.

Theo nhiều chuyên gia văn hóa Lào, thì lạp được xem như là linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem chúc nhau bằng món lạp. Gia đình nào nhận được nhiều món này thì hy vọng năm mới sẽ có nhiều lộc.

7. Các phong tục khác:

Vào những ngày này mọi người thường biếu vải, biếu khăn cho người già. Hội đua thuyền được tổ chức trên sông.

Ở các địa phương đều có đám rước, nhưng nổi tiếng nhất là đám rước Nangsangkhane ở cố đô Luang Prabang, với bảy cô gái đóng vai bảy người con của Kabinlaphom.

Ban ngày người ta đến đền chùa cầu nguyện. Vào buổi tối, mọi người tập trung ở chùa để vui chơi, biểu diễn âm nhạc truyền thống (morlam) và múa ramwong.

Nếu làng nào đặt tượng Phật trong hang núi thì lễ tắm Phật gọi là Song Namphaphou. Các nhà sư và dân làng ăn trưa ngay tại núi sau khi làm lễ.

xem nhiều trong tuần

tour hot

Thông tin liên quan
Tìm khách sạn theo các tỉnh thành
Danh hiệu